Lập vi bằng ghi nhận việc các bên trình bày, xác nhận về sự kiện đã xảy ra trong quá khứ
Có nhiều sự việc, giao dịch của người dân đã xảy ra trong quá khứ như việc trao đổi, xác nhận với nhau bằng lời nói, bằng các giấy tờ viết tay và không có người làm chứng dẫn đến các tranh chấp khó giải quyết vì không có bằng chứng.
Tuy nhiên, khi đến UBND hay tổ chức công chứng thì bị từ chối vì các cơ quan này cho rằng mình không có thẩm quyền để chứng thực hay công chứng sự việc nêu trên.
Sự ra đời của chế định Thừa phát lại (nay là Thừa hành viên) đã cung cấp giải pháp hỗ trợ các bên ghi nhận việc trình bày, xác nhận lại về sự kiện đã xảy ra trước đó để làm nguồn chứng cứ hợp pháp.
Thừa hành viên được Nhà nước bổ nhiệm theo quy định của pháp luật sẽ trực tiếp chứng kiến và lập vi bằng ghi nhận việc các bên tại thời điểm lập vi bằng trình bày, xác nhận về sự kiện đã xảy ra trước đó:
Vi bằng ghi nhận các bên tại thời điểm lập vi bằng trình bày, xác nhận việc đã giao nhận tiền trong các giao dịch;
Vi bằng ghi nhận các bên tại thời điểm lập vi bằng trình bày, xác nhận đã thực hiện giao dịch trong quá khứ (mua bán, chuyển nhượng, tặng cho, trao đổi…);
Vi bằng ghi nhận các bên tại thời điểm lập vi bằng trình bày, xác nhận về việc đã bàn giao, nhận bàn giao tài sản đúng đối tượng, điều kiện đã giao dịch (bàn giao nhà trong hợp đồng thi công, bàn giao tài sản trong hợp đồng mua bán, cho thuê…);
Vi bằng ghi nhận các bên tại thời điểm lập vi bằng trình bày, xác nhận có việc đứng tên giùm trên giấy tờ, văn bản (Việt kiều nhờ người trong nước đứng tên giùm mua nhà đất, đứng tên giùm trên hợp đồng mua bán, chuyển nhượng, đứng tên giùm trên giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu…);
Vi bằng ghi nhận các bên tại thời điểm lập vi bằng trình bày, xác nhận việc đã nhận tiền trong kỷ phần thừa kế và cam kết không đòi hỏi bất kỳ lợi ích nào khác liên quan đến việc thừa kế (có thể xảy ra trước hoặc sau thời điểm kê khai di sản thừa kế);
Vi bằng ghi nhận một bên lập bản tự khai trực tiếp trước sự chứng kiến của Thừa hành viên để gửi đến Tòa án (trường hợp Tòa án ở xa và người này muốn Tòa xử vắng mặt mình).
Vi bằng là nguồn chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật; là một trong những căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác (Căn cứ Điều 27 Nghị định số 151/2026/NĐ-CP và khoản 8 Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).
Cần trao đổi về trường hợp tương tự?
Nội dung bài viết chỉ mang tính tham khảo; với tình huống cụ thể nên đối chiếu quy định hiện hành và tài liệu thực tế.
