Hiểu thế nào cho đúng về thông tin “Phòng Công chứng sẽ giải thể sau năm 2026”?
Hiểu thế nào cho đúng về thông tin “Phòng Công chứng sẽ giải thể sau năm 2026”?, bài báo về việc "Phòng Công chứng sẽ giải thể sau năm 2026" Thông tin như vậy khiến cho đại đa số khách hàng, nhân dân, thậm chí cán bộ nhà nước thấy khó hiểu hoặc dễ bị hiểu lầm; thắc mắc những hồ sơ pháp lý sẽ rơi vào đâu khi giải thể; không biết trong tương lai sẽ thực hiện thế nào với các giao dịch dân sự của mình.
Tiêu chí
Phòng công chứng
Văn phòng công chứng
Pháp luật điều chỉnh
- Luật công chứng
- Luật công chứng
- Luật doanh nghiệp (vì Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động như một loại hình công ty hợp danh)
Địa vị pháp lý
- Là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Tư pháp, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng.
CSPL: Khoản 2 Điều 19 Luật Công chứng 2014
- Là công ty hợp danh, có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên.
- Văn phòng công chứng không có thành viên góp vốn.
- Văn phòng công chứng có con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính bằng nguồn thu từ phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu hợp pháp khác.
CSPL: Khoản 1, 4 Điều 22 Luật Công chứng 2014
Thành lập
- Phòng công chứng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập.
- Căn cứ vào nhu cầu công chứng tại địa phương, Sở Tư pháp chủ trì phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Nội vụ xây dựng đề án thành lập Phòng công chứng trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.
CSPL: Khoản 1 Điều 19, Khoản 1 Điều 20 Luật Công chứng 2014
- Văn phòng công chứng được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Công chứng và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đối với loại hình công ty hợp danh.
- Các công chứng viên thành lập Văn phòng công chứng phải có hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công chứng gửi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.
CSPL: Khoản 1 Điều 22, Khoản 1 Điều 23 Luật Công chứng 2014
Tên gọi
Tên gọi bao gồm cụm từ “Phòng công chứng” kèm theo số thứ tự thành lập và tên của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Phòng công chứng được thành lập.
CSPL: Khoản 3 Điều 19, Khoản 1 Điều 20 Luật Công chứng 2014
Tên gọi bao gồm cụm từ “Văn phòng công chứng” kèm theo họ tên của Trưởng Văn phòng hoặc họ tên của một công chứng viên hợp danh khác của Văn phòng công chứng do các công chứng viên hợp danh thỏa thuận, không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của tổ chức hành nghề công chứng khác, không được vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc.
CSPL: Khoản 3 Điều 22 Luật Công chứng 2014
Vậy được hiểu là Phòng Công chứng và Văn phòng Công chứng là hoàn toàn khác nhau, nội dung quy phạm pháp luật không có tính áp dụng cho Văn phòng Công chứng. Cụ thể là: Ngày 15/05/2025, Chính phủ ban hành Nghị định 104/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Công chứng 2024.
- Theo đó, tại Điều 14 Nghị định 104/2025/NĐ-CP quy định giải thể Phòng công chứng như sau:
- Phòng công chứng thuộc trường hợp chuyển đổi thành Văn phòng công chứng theo quy định của Luật Công chứng 2024 mà không chuyển đổi được thì bị giải thể. Trường hợp không có khả năng chuyển đổi Phòng công chứng thành Văn phòng công chứng thì Sở Tư pháp lập đề án giải thể Phòng công chứng trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.
- Quy phạm pháp luật kể trên không có tính ảnh hưởng tới hoạt động của Văn phòng công chứng mà khách hàng hoàn toàn có thể yên tâm bởi:
+ Luật công chứng 2024 mới có hiệu lực từ ngày 1/7/2025 cho thấy nhiều quan điểm, ý chí phù hợp và thắt chặt của nhà xây dựng luật;
+ Nghị định Nghị định 104/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Công chứng 2024 ra đời;
+ Tỷ lệ tốt nghiệp kỳ thi quốc gia có tỉ lệ đỗ là rất thấp, dẫn tới đầu ra chất lượng;
+ Các vấn đề, sự kiện pháp lý, quan hệ giao dịch dân sự ngày càng phức tạp và cần hoạt động công chứng về sau.
Vậy nên, Văn phòng chúng tôi đã và đang, sẽ cố gắng xây dựng hoạt động của mình được tốt nhất, xin cảm ơn bạn đọc theo dõi.
Cần trao đổi về trường hợp tương tự?
Nội dung bài viết chỉ mang tính tham khảo; với tình huống cụ thể nên đối chiếu quy định hiện hành và tài liệu thực tế.
